U nhú thanh quản (Papilloma thanh quản): chẩn đoán và điều trị

U nhú thanh quản là gì?

Bệnh u nhú thanh quản là một thương tổn lành tính hoặc xâm lấn ở thanh quản và khí quản. Bệnh có thể gặp ở người lớn và trẻ em.

Nguyên nhân

Có rất nhiều giả thuyết về bệnh sinh của u nhú như:

  • Thuyết về kích thích cơ học: ngày nay người ta coi như một yếu tố thuận lợi chứ không phải nguyên nhân gây bệnh.
  • Thuyết liên quan nội tiết: ngày nay nhiều tác giả chứng minh bệnh ít ảnh hưởng bởi yếu tố nội tiết.
  • Thuyết về nguồn gốc siêu vi: được chú ý nhiều nhất. Nguyên nhân được cho là do Papilloma virus gây bệnh ở người HPV (Human papilloma virus) type 6 và 11.

Yếu tố nguy cơ

Ba yếu tố chính được đề cập nhiều nhất: con đầu lòng, mẹ trẻ, sinh theo đường tự nhiên. Ngoài ra còn có các yếu tố khác:

  • Dinh dưỡng kém
  • Suy giảm miễn dịch
  • Sử dụng thuốc lá

Triệu chứng

Khởi phát

  • Khàn tiếng: khàn tiếng tăng dần, ngày càng nặng hơn, không lúc nào hết.
  • Khó thở: khó thở chậm, thì hít vào, có thể kịch phát với triệu chứng thở rít và co lõm hõm ức, cơ liên sườn.
  • Ho khan kéo dài
  • Viêm phổi tái phát
  • Sức khỏe suy yếu.

U nhú thanh quản ở trẻ em

Soi thanh quản: tổn thương u nhú hình dạng trái dâu, trải rộng hoặc có cuống, ở vị trí hai dây thanh hoặc ở toàn bộ thanh môn, đó là vị trí cố định của u nhú thanh quản.

Cần chụp phim phổi thẳng để tìm u nhú ở phế quản, phổi;

Nội soi thanh thực quản để đánh giá độ lan tỏa của u nhú;

Sử dụng kính hiển vi phẫu thuật để đánh giá chi tiết mức độ thương tổn, thực hiện sinh thiết hoặc điều trị tại chỗ, kiểm soát sự chảy máu.

U nhú thanh quản ở người lớn

Phần nhiều u nhú ở người lớn là một khối u duy nhất và có bệnh cảnh khác với trẻ em, thường trong khoảng tuổi 40, đàn ông bị nhiều hơn đàn bà.

Bệnh bắt đầu bằng triệu chứng khàn tiếng, sau đó là khó thở xuất hiện muộn sau một thời gian dài.

Soi thanh quản: u là một khối màu trắng xám chiếm toàn bộ mép trước hay u là một khối nhỏ màu hồng mọc trên dây thanh hay nhô ra ngoài băng thanh thất.

Các thể lâm sàng

Có thể chia hai thể: thể lành tính và thể xâm lấn.

Thể lành tính

Khu trú ở thanh quản và hạ thanh môn của người lớn và trẻ em, không cần mở khí quản, có thể lành khi đến tuổi dậy thì.

Thể xâm lấn

Có thể có một hoặc nhiều trong số các đặc điểm như u nhú lan xuống khí quản phải soi cắt nhiều lần, mở khí quản, tiến triển tới lớn hoặc thoái hóa ác tính.

Cận lâm sàng

Nội soi

Bằng ống nội soi thanh quản mềm (fibroscope), ống soi quang học (optique) hoặc ống soi hoạt nghiệm dây thanh (stroboscope) để đánh giá thương tổn ở dây thanh. Ngoài ra, có thể sử dụng ống soi khí phế quản cứng hoặc mềm để đánh giá tổn thương ở sâu hơn.

Giải phẫu bệnh

Đại thể

Là những khối sùi hình quả dâu tằm, hoặc hình súp-lơ nhiều nhánh màu trắng xám hoặc đỏ, rải rác hoặc tụ thành đám.

Mỗi thành phần của đám sùi này gồm một trục mao mạch ở giữa bao quanh bởi mô liên kết. Tổ chức u nhú dễ chảy máu khi đụng vào, mềm, mủn do đó dễ tách ra và hít vào phổi khi ho hoặc hít sâu.

Vi thể

Đây là một sự quá sản của biểu mô, mô liên kết và mạch máu. Sự phát triển này không bao giờ làm tổn thương lớp màng đáy.

Sự khác nhau của u nhú thanh quản trẻ em và người lớn về mô học rất ít. Thường thì sừng hóa thấy nhiều ở người lớn, nhiều khi rất là diển hình, giống như mụn cóc ngoài da.

Xét nghiệm HPV bằng phương pháp PCR

PCR là thử nghiệm nhằm khuếch đại chuỗi các acid nucleic đích thành hàng tỷ bản sao để sau đó có thể chẩn đoán xác định HPV và phân typ gây bệnh.

Xquang hay CT scan vùng ngực

Rất cần thiết khi xác định papilloma lan tới khí phế quản và phổi.

Chẩn đoán phân biệt

Mỗi giai đoạn của bệnh có chẩn đoán phân biệt khác nhau.

Phân biệt qua triệu chứng cơ năng

Ở giai đoạn khàn tiếng, phân biệt với viêm thanh quản xuất tiết, hạt dây thanh, polyp dây thanh, các bệnh nhiễm trùng gây phù nề dây thanh, liệt dây thần kinh hồi quy.

Ở giai đoạn khó thở cấp, phân biệt với dị vật đường thở, bạch hầu, viêm thanh quản do sởi.

Giai đoạn khó thở mạn tính tăng dần, phân biệt với khối u chèn ép trung thất.

Phân biệt qua nội soi

Lao thanh quản dạng chồi sùi.

Giang mai di truyền, thâm nhiễm dạng sùi.

Dị vật đường thở bỏ quên, kẹt vào hạ thanh môn hoặc băng thanh thất, bao bọc bởi khối sùi, đỏ và dễ chảy máu.

U hạt viêm do đặt nội khí quản lâu ngày hoặc sai kỹ thuật.

Cuối cùng, chẩn đoán xác định bao giờ cũng phải dựa vào kết quả giải phẫu bệnh với hình ảnh đại thể và vi thể điển hình.

Điều trị

Nguyên tắc điều trị

Phẫu thuật cắt papilloma tại chỗ và giải quyết tình trạng nghẹt thở.
Điều trị nội khoa hỗ trợ giúp ngăn ngừa và kéo dài thời gian tái phát.

Sơ đồ/ Phác đồ điều trị

Thông thường, để đảm bảo kết quả cao nhất, người ta thường phối hợp một phương pháp điều trị phẫu thuật và một phương pháp điều trị hỗ trợ hay cùng lúc nhiều phương pháp điều trị.

Điều trị ngoại khoa: vi phẫu thuật cắt u nhú, mở khí quản.

Điều trị nội khoa: dùng các thuốc tác động trên hệ thống miễn dịch của cơ thể hoặc tác động trên siêu vi HPV để làm biến mất u nhú, ngăn sự tái phát hay kéo dài thời gian giữa hai lần tái phát.

Ngoại khoa

  • Vi phẫu thuật thanh quản cắt u nhú
  • Soi thanh quản treo cắt u nhú là phương pháp điều trị cơ bản nhất để lấy tận gốc u nhú tại chỗ và giải quyết sự nghẹt thở.
  • Dùng kìm vi phẫu để cắt u nhú dưới gây mê toàn thân.
  • Dùng laser CO2 cắt u nhú: ít gây chảy máu và phù nề.
  • Dùng dao PIPE cắt u nhú: an toàn, giữ nguyên cấu trúc thanh quản, không gây chảy máu và phù nề sau khi cắt.
  • Mở khí quản: chỉ mở khí quản khi thật cần thiết.

Điều trị nội khoa hỗ trợ

  • Interferon: là loại interferon alpha uống trong 6 tháng, 03 liều tiêm bắp mỗi tuần một liều 150000UI/kg.
  • Ngoài ra hiện nay người ta còn dùng: Indol-3-Carbinol, Ribavirin, Acyclovir, Methotrexate, Isotretinoin, Cidfovir.
  • Miễn dịch liệu pháp: miễn dịch tự thân với thuốc kháng virus HPV sau khi tiểu phẫu ổn định để đào thải triệt để virus.

Tiên lượng và biến chứng

Diễn tiến tự nhiên

Một trong những đặc điểm của u nhú là khó tiên lượng được bệnh. Tuy nhiên có thể phân biệt hai thể tiến triển:

Thể lành tính: tái phát chậm và ít sùi hơn, lành sau một vài lần soi cắt, nhất là cắt đốt bằng laser CO2.

Thể xâm lấn: phát triển nhanh, tạo thành nhiều khối sùi, tái phát nhanh và khối lượng lớn, dễ gây khó thở, đôi khi phải mở khí quản cấp cứu. Do đó, ở thể này, thường u nhú ở khí quản, phế quản và nhu mô phổi.

Biến chứng

Quan trọng nhất là biến chứng suy hô hấp cấp, có thể gây tử vong. Ngoài ra là các biến chứng do bội nhiễm phổi gây áp xe phổi, thậm chí gây nhiễm trùng huyết.

Di chứng

Thường gặp nhất là sẹo hẹp, ảnh hưởng đến giọng nói hoặc hô hấp của bệnh nhân.

Tiên lượng

Không có tiêu chuẩn lâm sàng cụ thể nào cho đánh giá về tiên lượng.

Thể lành tính có thể lành một cách tự nhiên hoặc sau vài lần cắt, thể này chỉ có nguy cơ để lại di chứng khàn tiếng do sẹo dính.

Thể xâm lấn không chỉ để lại di chứng về chức năng như khàn tiếng nặng, khó thở do sẹo hẹp mà còn ảnh hưởng đến tính mạng do suy hô hấp cấp hoặc do nhiễm trùng nặng.

Phòng bệnh

Tiêm phòng vắc xin HPV cho kết quả khả quan.

Phụ nữ chuẩn bị mang thai hay đang mang thai nên được điều trị bệnh lý phụ khoa triệt để.

Trẻ khàn tiếng nên được soi kiểm tra sớm u nhú thanh quản và hướng dẫn liệu trình theo dõi và điều trị đúng phương pháp.

U nhú thanh quản (Papilloma thanh quản): chẩn đoán và điều trị
5 (100%) 26 votes