Tránh thai nam bằng hormon: cơ chế tác dụng và tính hiệu quả

Tránh thai nam bằng hormon là gì?

Tránh thai nam bằng hormon có thể tạm chia ra làm ba nhóm: ức chế sự sản sinh tinh trùng, ngăn sự trưởng thành của tinh trùng, và ngăn chặn sự vận chuyển tinh trùng. Trong đó, phương pháp sử dụng hormon với mục tiêu ức chế sinh tinh được cho là có tiềm năng trở thành hiện thực dựa trên những tiến bộ rất đáng ghi nhận gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG).

Các thử nghiệm đa trung tâm về hiệu quả thuốc tránh thai nam cho thấy phương pháp này làm gián đoạn việc sản xuất tinh trùng nhưng lại không làm mất đi nam tính. Các nhà khoa học Australia đã nghiên cứu một công thức tổng hợp bao gồm việc cấy vào cơ thể 4 tháng một lần hormon sinh dục nam testosteron, và tiêm 3 tháng một lần hormon progestoron DMPA cũng chính là hormon sử dụng trong thuốc tránh thai của nữ giới. Phương thức tránh thai này giúp ngăn chặn não kích thích việc sản xuất tinh trùng. Phương thức này không buộc người sử dụng phải nhớ uống thuốc hàng ngày như ở thuốc tránh thai nữ giới. Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm thành công nhiều lần trên động vật thực nghiệm.

Cuối thập niên 70. thử nghiệm lâm sàng đánh giá khả năng ức chế sinh tinh bằng hormon đã được triển khai. Thử nghiệm đa trung tâm đầu tiên của TCYTTG bao gồm tiêm bắp 200mg testosteron enanthate (TE) mỗi tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai nào. Thử nghiệm này bước đầu đạt một số thành quả nhất định như: 2/3 trường hợp cho thấy không có tinh trùng (azoospermia), số còn lại đạt thiểu tinh trùng (oligozoospermia) nặng, chỉ có 1 ca có thai trên 137 cặp vợ chồng tham gia, tất cả tuân thủ điều trị và chấp nhận được tác dụng phụ của thuốc. Điều thú vị là người Châu Á đạt tỉ lệ không có tinh trùng cao hơn chủng người da trắng (90% so với 60%).

Nồng độ tối đa androgen trong tinh hoàn là chìa khóa của cơ chế ức chế sinh tinh. Nếu liều testosteron (đơn liều hay kết hợp với những thành phần kháng gonadotropin) đủ để ức chế gonadotropin xuống mức độ thấp, thì chức năng của tế bào Leydig sẽ bị phong tỏa. Tuy nhiên, ranh giới giữa thành công và thất bại rất mong manh. Vì nếu liều kháng gonadotropin quá thấp thì tác dụng ức chế testosteron trong tinh hoàn không đạt được theo ý muốn. Nhưng nếu thành phần androgen quá cao thì sẽ ảnh hưởng lên sự sinh tinh. Trong thực tế vẫn còn những thách thức:

– Thiếu sự đồng đều (để đạt kết quả không có tinh trùng) trong quá trình sử dụng thuốc tránh thai nam. Cụ thể là chủng người da trắng vẫn còn có một nhóm không đáp ứng với điều trị và không đạt được kết quả không có tinh trùng.

Các nhà khoa học của TCYTTG đã phân tích nhiều dữ liệu như nhân trắc học, tinh dịch đồ, sinh hóa nhưng chỉ tìm thấy một số đặc điểm như: những người nam này (đạt được kết quả không có tinh trùng) có tỉ lệ suy giảm sinh tinh và hồi phục sinh tinh rất nhanh, nồng độ FSH trước khi tham gia cao, phản ứng dội (rebound) của gonadotropin sau điều trị kéo dài hơn.

– Các dạng thuốc tránh thai hiện nay vẫn chưa được xác định rõ. Nên dùng đơn liều hay dùng kết hợp, liều dùng, phương thức dùng thuốc thích hợp vẫn còn gây tranh luận.

– Tác dụng phụ ngắn hạn và dài hạn của thuốc cần được cân nhắc kỹ lưõng. Trong những thử nghiệm gần đây, nguyên nhân khiến người dùng ngưng sử dụng thuốc là: nổi mụn, thay đổi tính khí, hành vi và ham muốn tình dục. Ngoài ra, cần có thêm những nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc lên các bệnh lý tiền liệt tuyến, hoạt động tình dục, tâm lý. Thuốc tránh thai bằng hormon phải dựa trên sinh lý sản sinh tinh trùng.

Cơ chế điều hòa sản sinh tinh trùng

Tinh hoàn là cơ quan vừa nội tiết, vừa ngoại tiết. Tinh trùng được sản sinh tại các ống sinh tinh do các tế bào mầm và tế bào Sertoli, còn testosteron được sản xuất tại tổ chức kẽ và tế bào Leydig.

Vùng dưới đồi bài tiết hormon GnRH theo nhịp xung và kích thích tuyến yên bài tiết FSH và LH. LH sẽ kích thích tế bào Leydig tiết testosteron. Nồng độ testosteron cao sẽ ức chế dưới đồi và tuyến yên không tiết FSH và LH, tăng sự thơm hóa testosteron tại tổ chức để tạo thành estradiol. Khi nồng độ FSH, LH thấp sẽ làm cho tinh hoàn không sản xuất tinh trùng.

Mục đích tránh thai nam giới bằng hormon là ức chế quá trình sản sinh tinh trùng, làm giảm số lượng, chất lượng và tốt nhất là không có tinh trùng sẽ tránh được có thai. Theo nghiên cứu của TCYTTG, khi mật độ tinh trùng dưới 3.196/ml tinh dịch thì tỉ lệ có thai là 1,4/100 trường hợp trong một năm, tương đương với thất bại của viên thuốc tránh thai.

Khi ức chế được tiết FSH thì giảm được số lượng tinh trùng nhưng vẫn còn khả năng có thai cao. Nếu khống chế được FSH và LH thì không có tinh trùng nhưng lại giảm ham muốn tình dục, các tính sinh dục phụ khác, giảm nam tính, vì vậy các hormon ức chế gonadotropin cần phải bổ sung thêm androgen.

Hormon tránh thai nam dựa trên các yếu tố: ức chế FSH, LH; giảm nồng độ testosteron trong tổ chức kẽ của tinh hoàn và giảm sinh tinh trùng; bổ sung testosteron để cải thiện tính năng của nam giới. Do vậy, cần bổ sung chất ức chế gonadotropin tương tự như GnRH và một vài steroid khác với đường dùng là uống, dán hoặc tiêm.

– Hormon androgen đơn thuần: loại tác dụng ngắn, phải tiêm hàng tuần là testosteron enanthate; loại tác dụng kéo dài là testosteron buciclate và testosteron undercanoate, hoặc loại tiêm dưới da là 7′-methyl-19-nortesstosteron. Nhược điểm là gây tác dụng không mong muốn như tăng cân, cương tức vú, giảm nồng độ HDL.

+ Testosteron enanthate: tiêm bắp hàng tuần liều 200 mg, xét nghiệm 6 tháng sau dùng thuốc không thấy tinh trùng trong tinh dịch, nhưng cũng còn nhiều tranh luận về kết quả.

+ Testosteron buciclate: thời gian bán hủy là 29,5 ngày, cao hơn rất nhiều so với testosteron enanthate (4,5 ngày). Tuy nhiên, còn ít kết quả nghiên cứu về tác dụng của chất này nên chưa đưa vào sản xuất và sử dụng đại trà.

+ Testosteron undercanoate: nghiên cứu từ 1978 dưới dạng viên. Uống liều 240 mg trong 12 tuần, nhưng chỉ có 8 người giảm được tinh trùng ở mức độ không có thai. Có thể do thời gian bán hủy nhanh nên tác dụng kém, ngay cả khi uống 4 lần trong ngày cũng không đủ ức chế bài tiết gonadotropin để ức chế bài tiết tinh trùng. Theo một nghiên cứu tại Trung Quốc, nếu dùng liều 1000 mg dưới dạng tiêm cách 4 tuần cho kết quả 100% không có tinh trùng, còn nếu 500 mg thì tỉ lệ này 95%.

– Androgen kết hợp chất tương tự GnRH: sử dụng các chất không có tính androgen để ức chế bài tiết gonadotropin. Các hormon thường dùng là progestin hoặc progestin kết hợp với estrogen hoặc đồng vận hay đối vận của GnRH. Nhưng khi sử dụng dạng này sẽ gây thiếu testosteron. Vì vậy, phải bổ sung testosteron đảm bảo nồng độ tương đương sinh lý để duy trì các đặc tính chức năng nam giới về tâm trí, tình dục và chống loãng xương. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, chất này có nhiều ưu điểm, được chỉ định cho mọi lứa tuổi, chủng tộc; sau khi ngừng dùng thuốc, khả năng sinh tinh vẫn hồi phục.

– Kết hợp vối GnRH agonits: mục đích là ức chế tuyến yên bài tiết gonadotropin cho phụ nữ hoặc điều trị ung thư tiền liệt tuyến, còn ở nam giới thì chỉ có testosteron ức chế quá trình sinh tinh. Khi sử dụng, ban đầu kích thích nhưng sau đó lại ức chế tuyến yên (hiệu ứng down regulation) nên không được sử dụng.

– Kết hợp với GnRH antagonits: ức chế trực tiếp tuyến yên sản sinh tinh trùng. Thuốc có biệt dược là Acycline và phải tiêm hàng tuần, chi phí cao nên không được đưa vào sử dụng.

– Androgen kết hợp gestaren: ở phụ nữ, hormon loại gestaren có tác dụng ức chế bài tiết gonadotropin ức chế phóng noãn, còn ở nam giới sẽ ức chế sản sinh tinh trùng. Có rất nhiều nghiên cứu sử dụng một loại gestaren kết hợp với androgen để tránh thai nhưng chưa đưa ra được những kết quả tin cậy và có thể áp dụng được. Các loại gestaren thường được sử dụng là Depot Medroxyprogesteron Acetat (DMPA), levonogestrel, norethisteron, cyproteron acetat, desogestrel và etonogetrel.

Với áp lực dân số thế giới, nhu cầu có một loại thuốc tránh thai cho nam giới ngày càng trở nên bức thiết. Hiện nay, chưa có một phương thức tránh thai nam giới bằng hormon nào sẵn sàng đưa vào sử dụng trong cộng đồng mà hầu hết là những nghiên cứu thử nghiệm nhỏ, chưa đủ độ mạnh và các nhà nghiên cứu vẫn đang cố gắng thử nghiệm các phương thức khác nhau. Cùng với sự tiến bộ của các ngành liên quan như dược, sinh hóa, sinh lý,… hi vọng những thử nghiệm bước đầu này sẽ sớm tạo tiền đề cho sự ra đời của một loại thuốc tránh thai nam hiệu quả và tiện dụng.

Trên cơ sở đó, hãng Shepherd đã nghiên cứu và cho ra đời một sản phẩm mới có tên là Intra Vas Device hay IVD dựa trên kết quả nghiên cứu qui mô nhỏ sử dụng IVD trong thời gian 2 năm với sự tham gia của 30 nam giới tình nguyện, tất cả những người này đã có đủ số con cần thiết, và muốn được thắt ống dẫn tinh. IVD (một gel silicon) được tiêm qua da bìu trực tiếp vào các ống dẫn tinh làm nghẽn ống dẫn tinh để ngăn cản xuất tinh khi giao hợp. Khi cần phục hồi khả năng sinh đẻ, có thể loại chất này ra bằng một kĩ thuật vi phẫu để khâu lại ống dẫn tinh. Đây là biện pháp tránh thai nam tại chỗ, ít xâm lấn, không dùng hormon và có khả năng phục hồi khi cần.

Tính khả thi của biện pháp tránh thai nam giới bằng hormon

TCYTTG tiến tới thử nghiệm độ an toàn và hiệu quả pha III của thuốc. Vừa qua, trong ấn bản tháng 6 năm 2009, Tạp chí Nội tiết và Chuyển hóa lâm sàng thông báo kết quả thử nghiệm độ an toàn và hiệu quả pha III của androgen tác dụng lâu dài lên tránh thai ở nam giới trên 1045 cặp vợ chồng từ 10 trung tâm ở Trung Quốc.

Kết quả cho thấy, androgen có tác dụng rõ rệt, làm giảm sự sinh tinh. Trong khi chỉ khoảng 5% nam giới không đáp ứng đầy đủ với điều trị, phương pháp này hiệu quả cao trên nam giới có đáp ứng với điều trị, tỉ lệ thất bại tương đương thuốc tránh thai uống dạng kết hợp.

Tác dụng không mong muốn bao gồm: tăng cân, nổi mụn,… không có rắc rối nào về an toàn được báo cáo. Khi ngừng dùng thuốc, việc sản xuất tinh trùng trở lại bình thưòng. Các nhà nghiên cứu kết luận phương pháp này cho hiệu quả tránh thai an toàn, hiệu quả, đáng tin cậy trên đàn ông Trung Quốc khỏe mạnh với tỉ lệ rất cao. Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác nữa. Mặc dù chưa thể ứng dụng trên lâm sàng nhưng bước đầu, tiềm năng của phương pháp tránh thai nam bằng hormon đã được chứng minh.

Tránh thai nam bằng hormon: cơ chế tác dụng và tính hiệu quả
5 (100%) 14 votes