Quá trình sinh tinh: các giai đoạn và những yếu tố ảnh hưởng

Quá trình sinh tinh

Quá trình sinh tinh: Ở tuổi dậy thì, những tế bào thuộc dòng tinh sinh sản, biệt hóa để trưởng thành qua các giai đoạn từ tinh nguyên bào đến tinh bào 1, tinh bào 2, tinh tử và tinh trùng.

Tinh nguyên bào (spermatogonia)

Là tế bào đầu dòng của dòng tinh. Trong thòi kỳ phôi thai, bắt đầu từ tuần thứ bảy, các tế bào sinh dục nguyên thủy bắt đầu gián phân và biệt hóa tạo ra những tinh nguyên bào.

Ngay sau khi tế bào sinh dục nguyên thủy di cư đến mầm sinh dục, tế bào Sertoli mau chóng ức chế sự gián phân và ngăn cản tế bào này giảm phân. Vì vậy, quá trình phân chia, đặc biệt là quá trình giảm phân không xảy ra cho đến tuổi dậy thì.

Ở trẻ em và thiếu niên, tinh hoàn lớn lên do tăng sinh tế bào nhưng cho đến tuổi dậy thì, trong lòng ống sinh tinh không có sự biệt hóa nào của tế bào dòng tinh cả. Chỉ từ tuổi dậy thì, lòng ống sinh tinh mới xuất hiện và mới có sự biệt hóa và tiến triển của các tế bào dòng tinh để tạo ra tinh trùng.

Tinh nguyên bào nằm ở ngoại vi biểu mô tinh và nằm sát màng đáy, xen giữa màng đáy và tế bào Sertoli, có bộ NST lưỡng bội 2n (46, XY).

– Tinh nguyên bào chủng (Clermont xếp loại tinh nguyên bào A sẫm màu), có khả năng phân chia nguyên nhiễm để sản sinh ra hai dòng tế bào con: một dòng vẫn giữ nguyên đặc điểm cấu tạo của tinh nguyên bào chủng và có khả năng phân chia để làm nguồn dự trữ sinh sản các tế bào này suốt đời, một dòng tế bào con khác mới sinh sẽ biệt hóa thành tinh nguyên bào bụi.

– Tinh nguyên bào bụi (Clermont xếp loại tinh nguyên bào A sáng màu) không sinh sản, nó biệt hóa thành tinh nguyên bào vảy.

– Tinh nguyên bào vảy còn gọi là tinh nguyên bào B không có khả năng phân chia để sinh sản mà biệt hóa thành tinh bào 1.

Tinh bào 1 (spermatocyte 1)

Các tinh nguyên bào B sau khi chui qua hàng rào máu-tinh hoàn để vào lớp tế bào Sertoli thì lớn dần lên do tích lũy được nhiều chất dinh dưỡng để tạo thành tinh bào 1, có bộ NTS lưỡng bội 2n (46, XY), kích thước 25 micromet, là tế bào có kích thước lớn nhất trong các tế bào dòng tinh, nằm xa màng đáy và cách màng đáy một hàng tinh nguyên bào.
Giai đoạn tinh bào 1 kéo dài 22-24 ngày. Cuối thời kỳ này, các tinh bào 1 phân chia giảm nhiễm I để tạo thành tinh bào 2.
Quá trình phân bào giảm nhiễm này đã tạo nên sự đa dạng di truyền khi tạo ra các giao tử do có thể xảy ra quá trình trao đổi gen.

Tinh bào 2

Là tế bào đơn bội nhưng chứa 23 nhiễm sắc thể đôi (có hai chromatid). Những tế bào này rất nhỏ và chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn nên rất khó nhìn thấy trong tiêu bản tinh hoàn.
Sau 2-3 ngày, mỗi tinh bào 2 tiếp tục phân chia giảm nhiễm II để cho 2 tế bào tiền tinh trùng.

Tinh tử (spermatid)

Bộ NST của tinh tử là n (23, X; 23, Y). Như vậy, giảm phân làm số lượng NST giảm một nửa nhưng đủ bộ, khi giao tử đực và cái hợp nhất trong thụ tinh số lượng NST 2n sẽ được hồi phục.

Theo ước tính, mỗi tinh nguyên bào sẽ cho ra 512 tinh tử. Quá trình sinh sản từ tinh bào 1 thành tinh tử kéo dài 24 ngày. Tinh tử không có khả năng sinh sản mà biệt hóa thành tinh trùng. Trong quá trình này, nhân tinh tử đặc lại, bào tương co lại, hình thành thể cực đầu và phát triển đuôi.

Tinh trùng (spermatozoa)

Ở nam giới, một nửa tinh trùng có bộ NST là 23, X; một nửa là 23, Y. Giới tính của thế hệ con được xác định bởi loại tinh trùng nào được thụ tinh với noãn. Ở người, từ một tế bào mầm nguyên thủy, phải mất 64 ngày mới cho ra được một tinh trùng trưởng thành.

Điều hòa tuyến sinh dục nam

Tuyến yên tiết LH và FSH để điều khiển và kiểm soát chức năng hoạt động của tinh hoàn. Tuyến yên chế tiết FSH và LH phụ thuộc vào sự kích thích theo nhịp sinh học của GnRH vối nhịp độ 60 phút /lần.

LH là chất chính để kích thích tế bào Leydig sản xuất testosteron. Khi nồng độ testosteron cao sẽ ức chế tuyến yên tiết LH. FSH khởi đầu và duy trì sinh tinh, kích thích tế bào Sertoli.

Tế bào Sertoli cũng nằm trong ống sinh tinh, mặt trong màng đáy, bao quanh các tế bào mầm đang phát triền có nhiệm vụ nuôi dưỡng tinh trùng. Tế bào Sertoli tiết ra inhibin là một polypeptid có tác dụng ức chế tuyến yên tiết FSH. Cơ chế feedback là do testosteron (hoặc estrogen) được điều hòa bởi GnRH của vùng dưới đồi là chủ yếu và một phần ở tuyến yên.

Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh tinh

Chế độ ăn uống

Chế độ ăn thiếu chất như: vitamin A, vitamin E, một số acid béo, acid amin và kẽm có thể ảnh hưởng trực tiếp lên tinh hoàn và gây giảm sinh tinh.

Thiếu vitamin B có thể hưởng đến quá trình sinh tinh do ảnh hưởng trực tiếp lên tuyến yên và gián tiếp lên tinh hoàn (Setchell, 1983).

Gần đây, nhiều quan điểm cho rằng các thức ăn hiện đại thường chứa nhiều gốc hóa học có tính estrogenic yếu, nếu tích tụ lâu ngày có thể ức chế sinh tinh. Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng giảm chất lượng tinh trùng của nam giới đang được báo động.

Nhiễm trùng

Một số trường hợp vô sinh nam do giảm sinh tinh trùng sau biến chứng viêm tinh hoàn của bệnh quai bị. Biểu mô sinh tinh bị ảnh hưởng hay bị hủy hoàn toàn có thể do tác động trực tiếp của nhiễm trùng, do hiện tượng viêm, tăng nhiệt độ hoặc do phản ứng miễn dịch sau khi hàng rào máu tinh hoàn bị phá hủy (Setcheli, 1983).

Tăng nhiệt độ tinh hoàn

Ở người, nhiệt độ ở bìu thường thấp hơn thân nhiệt khoảng 2°c. Trong trường hợp tinh hoàn không xuống hoặc tinh hoàn ẩn, quá trình sinh tinh sẽ bị ngưng lại.

Trong thực nghiệm, người ta thấy cấu trúc mô học của tinh hoàn sẽ thay đổi nếu tinh hoàn không xuống.

Sốt trên 38,5°c có thể ức chế quá trình sinh tinh trong thời gian 6 tháng (Tổ chức Y tế Thế giỏi – WHO, 1987).

Ngoài tác dụng ức chế sinh tinh, nhiệt độ cao có thể gây tổn thương ADN của tinh trùng.

Môi trường sống và làm việc

Nhiễm độc một số kim loại nặng như chì, cadmi và thủy ngân có thể gây giảm sinh tinh và gây vô sinh. Hút thuốc nhiều và uống rượu cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp là giảm sinh tinh.

Các thuốc trừ sâu, diệt cỏ có thể gây ảnh hưởng lên quá trình sinh tinh. Đặc biệt, dioxin cũng được ghi nhận có tác động lên quá trình sinh tinh và có thể gây vô sinh.

Quá trình sinh tinh trùng rất nhạy cảm với nhiều loại hóa chất có nguồn gốc công nghiệp và nông nghiệp. Mặc dù chưa có các nghiên cứu có giá trị để xác định ảnh hưởng của dioxin trên quá trình sinh tinh của người, nhưng báo cáo của WHO năm 2000 về tác hại của dioxin trên sức khỏe cho thấy dioxin làm giảm số lượng tinh trùng ở chuột thực nghiệm.

Chất phóng xạ

Tinh nguyên bào trong giai đoạn phân chia rất nhạy cảm với phóng xạ, trong khi tinh nguyên bào gốc, tinh tử và tinh trùng ít bị ảnh hưởng hơn. Tuy nhiên, nếu tiếp xúc với phóng xạ cường độ cao, tất cả các loại tế bào sinh tinh đều bị ảnh hưởng có thể dẫn đến vô tinh không hồi phục. Gần đây, có báo cáo cho rằng việc sử dụng điện thoại di động cũng có thể ảnh hưởng đến quá trinh sinh tinh trùng.

Từ trường

Người ta ghi nhận rằng, từ trường với tần số thấp và cường độ cao có thể gây tổn thương quá trình sinh tinh. Từ trường còn được quan niệm là phóng xạ từ trường.

Trong môi trường sống hiện nay, từ trường chủ yếu được tạo bởi các thiết bị điện gia dụng, thiết bị điện công nghiệp hoặc đường dẫn truyền điện.

Các thuốc điều trị các bệnh lý nội khoa

Theo WHO (2000), một số thuốc được ghi nhận có thể ảnh hưởng đến sinh tinh như: hormon, cimetidin, sulphasalazin, spironolacton, nitrofurantoin, niridazon, colchichin. Các thuốc điều trị ung thư thường ức chế mạnh quá trình sinh tinh. Hầu hết các phác đồ hóa chất điều trị ung thư đều ảnh hưởng nhiều đến quá trình sinh tinh và gây tình trạng vô tinh tạm thời.

Các bệnh toàn thân

Các bệnh lý toàn thân đều ít nhiều có ảnh hưởng đến hoạt động của tinh hoàn, nhưng nhiều khi không được chú ý.

Các tình trạng bệnh lý cấp tính nặng như bỏng, nhồi máu cơ tim, chấn thương, phẫu thuật đều ức chế chức năng tinh hoàn.

Suy thận mạn tính dẫn đến rối loạn điều hòa trục hạ đồi-tuyến yên và gián tiếp ức chế chức năng tinh hoàn.

Suy gan mạn tính gây rối loạn nội tiết, dẫn đến giảm sinh tinh, teo tinh hoàn, nữ hóa, giảm chức năng sinh hoạt tình dục.

Các bệnh lý về đường tiêu hóa, huyết học, nội tiết đều được báo cáo có tác dụng giảm quá trình sinh tinh.

Ở những bệnh nhân có bệnh lý ác tính, sinh tinh thường giảm mạnh hoặc ngưng hoàn toàn, chủ yếu do tác động của các phương pháp điều trị ung thư như xạ trị, hóa trị.

Quá trình sinh tinh: các giai đoạn và những yếu tố ảnh hưởng
5 (100%) 32 votes