Giãn tĩnh mạch thừng tinh: cơ chế bệnh, triệu chứng & điều trị

Giãn tĩnh mạch thừng tinh là gì?

Giãn tĩnh mạch thừng tinh (GTMTT) là hiện tượng giãn bất thường của tĩnh mạch (TM) trong đám rối tĩnh mạch tinh.

Đây là một tình trạng bệnh lý rất phổ biến và thường gặp ở nam giới. Tỉ lệ bệnh ở tuổi thiếu niên chiếm 8-10%, vị thành niên khoảng 15%, tỉ lệ chung cho nam giới là 15%. GTMTT là nguyên nhân của 35% trường hợp vô sinh nam nguyên phát và 75-81% trường hợp vô sinh nam thứ phát.

Bệnh sinh

Cơ chế bệnh sinh của giãn tĩnh mạch thừng tinh

Các mạch máu đến cung cấp máu cho các cơ quan sinh dục nam tạo thành một mạng lưới rất phong phú. Các TM tinh hoàn, mào tinh hoàn và các lớp bao của thừng tinh tạo thành đám rối giống như dây leo rồi hội tụ lại ở lỗ bẹn trong tạo thành TM thừng tinh). Bình thường, TM tinh có đường kính khoảng nhỏ hơn hoặc bằng 2 mm. Vì những lý do nào đó, các TM ở đám rối này giãn tạo thành các búi gọi là GTMT.

Tĩnh mạch tinh (TMT) xuất phát từ tinh hoàn và nhận máu từ các nhánh mào tinh hoàn, hợp lại với nhau tạo nên một đám rối TM quấn xoăn xuýt, chằng chịt đi trong thừng tinh, đi lên và tập hợp lại thành nhánh lớn, bên trái đổ vào TM thận và bên phải đổ vào TM chủ bụng. TM có các van để tránh máu trào ngược dồn lại về tinh hoàn.

Khi những tĩnh mạch này không có van hoặc là hệ thống van này bị giảm chức năng, máu từ TM thận trào ngược vào đám rối TM, đồng thời ứ trệ máu từ tinh hoàn và mào tinh hoàn làm cho đám rối này giãn nhiều hơn. Khi không bị giãn, TMT làm mát tinh hoàn như một bộ phận tản nhiệt vì đưa máu ra khỏi tinh hoàn bằng những nhánh thông với những TM xung quanh động mạch tinh hoàn, vì vậy nhiệt độ của tinh hoàn luôn thấp hơn nhiệt độ cơ thể khoảng l-2°c.

Khi giãn tĩnh mạch thừng tinh, do máu bị ứ trệ sẽ làm cho nhiệt độ tinh hoàn có thể tăng lên 0,6- 0,8°c gây ảnh hướng đến quá trình sinh tinh.

Ngoài ra, còn một số giả thuyết ít được chấp nhận như: trào ngược các chất chuyển hóa từ thượng thận vào tĩnh mạch tinh, ứ đọng máu TM, tăng prostaglandin hoặc catecholamin trong tĩnh mạch tinh.

Bệnh gặp ở bên trái nhiều hơn bên phải, do cấu trúc giải phẫu của TMT phải ngắn và đổ chéo góc vào TM chủ dưới, còn TMT trái dài hơn và đổ gần như vuông góc vào TM thận. Vì vậy, có tới 90% các trường hợp giãn tĩnh mạch thừng tinh chỉ gặp ở một bên, trong đó 90% là ở bên trái.

Tuy thường gặp và chưa có các biện pháp phòng bệnh nhưng bệnh có thể điều trị được và tỉ lệ thành công cao.

Ảnh hưởng của giãn tĩnh mạch thừng tinh đến sinh sản và tình dục

Giảm thể tích tinh hoàn

Những bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch thừng tinh trong một thời gian dài, thể tích tinh hoàn bị giảm. Mức độ càng nặng thì thể tích tinh hoàn càng giảm.

Có nghiên cứu cho thấy bệnh nhân bị GTMT độ 2 và 3 có kích thước tinh hoàn nhỏ hơn bình thường; tuy nhiên, kích thước tinh hoàn đã tăng lên đáng kể ở bệnh nhân sau khi được phẫu thuật.

Giảm chức năng sản sinh tinh trùng

Thường tổn của hệ thống ống sinh tinh làm tổn thương các chức năng sinh tinh trùng của tinh hoàn bao gồm giảm quá trình sinh tinh, ngừng trưởng thành ở giai đoạn tinh tử và tinh bào, các ống tinh dày lên nhưng đường kính giảm xuống.

Tinh trùng di động kém, số lượng tinh trùng chưa trưởng thành tăng, hình thái của tinh trùng bị biến dạng. Nếu điều trị tích cực, chất lượng tinh dịch đồ được cải thiện về mức độ đậm đặc của tinh dịch, khả năng di động của tinh trùng và tỉ lệ tinh trùng bình thường.

Thay đổi hormon

Giãn tĩnh mạch thừng tinh làm thương tổn của tinh hoàn, giảm cả về tinh trùng cũng như sản xuất testosteron.

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có những thay đổi bất thường của một số hormon ở các bệnh nhân được cải thiện sau điều trị (nồng độ testosteron tăng lên đáng kể sau phẫu thuật).

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng cơ năng

  • Đau tức vùng bẹn bìu hoặc hiếm muộn, vô sinh.
  • Có cảm giác khó chịu, căng tức, đau tinh hoàn.
  • Đôi khi, người bệnh có cảm giác nóng ở bìu hoặc một tình trạng khó chịu mơ hồ ở bìu.
  • Bệnh nhân tự nhìn thấy hay sờ thấy búi TM giãn to ngoằn ngoéo như búi giun nằm trong bìu khi đứng.
  • Bệnh nhân tự sờ thấy tinh hoàn một bên nhỏ hơn bên đối diện và lo lắng đi khám bệnh

Triệu chứng thực thể

Khám bệnh nhân ở tư thế đứng, trong những trường hợp điển hình, có thể dễ dàng nhìn thấy búi dãn TM ở phía trên và sau tinh hoàn.

Mức độ giãn có thể gia tăng hơn khi làm nghiệm pháp Valsalva (bệnh nhân phình bụng, rặn nhẹ sẽ nhìn thấy các tĩnh mạch ở bìu và dọc theo thừng tinh to ra). Sờ thấy các TM lằn dưới tay.

Khi khám vùng bìu tư thế đứng có thế sờ thấy thừng tinh dày, có nhiều TM giãn mềm. đôi khi nối ngoằn ngèo ở dưới da bìu phía trên tinh hoàn, sờ có cảm giác như búi giun.

Cận lâm sàng

Siêu âm Doppler màu

Siêu âm Doppler màu cuống mạch tinh hoàn để đánh giá chính xác mức độ giãn tĩnh mạch thừng tinh.

Giãn TMT khi có ít nhất một TM trong đám rối TM có đường kính lớn hơn 2-3 mm. Khi làm nghiệp pháp Valsalva thấy tĩnh mạch phình to hơn và hình ảnh rõ hơn.

Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng

Là những xét nghiệm cần thiết khi có giãn tĩnh mạch thừng tinh nhằm loại trừ các trường hợp GTMT thứ phát do các khối u sau phúc mạc hay ở tiểu khung chèn ép.

Tinh dịch đồ

Chỉ định cho những trường hợp vô sinh để đánh giá tình trạng tinh trùng.

Phân độ giãn tĩnh mạch thừng tinh trên lâm sàng

  • Độ 0 : GTMT chưa có biểu hiện lâm sàng. Không phát hiện được khi thăm khám, chỉ phát hiện được khi làm các thăm dò cận lâm sàng như siêu âm.
  • Độ 1: GTMT sờ thấy hoặc nhìn thấy khi làm nghiệm pháp gắng sức (nghiệm pháp Valsalva).
  • Độ 2: GTMT sờ thấy nhưng không nhìn thấy khi đứng thẳng mà không cần làm nghiệm pháp Valsalva.
  • Độ 3: GTMT nhìn thấy hiện rõ ở da bìu khi đứng thẳng. Những trường hợp GTMT độ 2 và 3 có nhiều nguy cơ gây vô sinh hơn.

Điều trị

Điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh bằng nội khoa hầu như không có kết quả. Hiện nay, điều trị GTMT chủ yếu là can thiệp ngoại khoa.

Bệnh có chỉ định phẫu thuật khi GTMT lớn gây khó chịu hoặc đau tức bìu kéo dài, cản trở trong sinh hoạt, thể tích tinh hoàn nhỏ hơn 3 ml, thay đổi tinh dịch đồ ở người trên 18 tuổi.

Chỉ định

– GTMT gây triệu chứng đau tức vùng bẹn bìu kéo dài ảnh hưởng tới sinh hoạt và khả năng lao động.
– GTMT kết hợp với teo tinh hoàn.
– GTMT phát hiện trên một cặp vợ chồng vô sinh.
– GTMT kèm theo bất thường về tinh dịch đồ.

Các phương pháp điều trị can thiệp

Nguyên tắc phẫu thuật: cắt và thắt hai đầu TMT, làm xẹp hết máu đọng ở phần TM ngoại vi, không làm thương tổn động mạch tinh, bạch mạch.

Phẫu thuật

– Gồm có mổ mở cổ điển, phẫu thuật nội soi và vi phẫu thuật, trong đó vi phẫu thuật là phương pháp mang lại hiệu quả cao nhất.

Xu hướng hiện nay là điều trị bằng vi phẫu thuật, với ưu điểm là nhờ kính hiển vi mà phẫu thuật viên dễ nhận biết và bảo tồn động mạch tinh và hệ bạch mạch, tránh biến chứng như teo tinh hoàn hoặc tràn dịch tinh mạc.

Hiện nay, vi phẫu đường bẹn hay dưới bẹn được xem là tiêu chuẩn vàng trong điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh.

Đối với những trường hợp khám lâm sàng không sờ thấy, chỉ định điều trị ngoại khoa hiện còn tranh luận.

Nút mạch chọn lọc dưới hướng dẫn của X quang

Nút mạch chọn lọc dưới hướng dẫn của X quang và mổ vi phẫu.

Như vậy, các phương pháp can thiệp được áp dụng là phẫu thuật mổ, phẫu thuật nội soi, vi phẫu thuật và nút mạch chọn lọc dưới hướng dẫn của X quang.

Kết luận

– Về phẫu thuật, dù theo phương pháp mổ nào, với mắt thường hoặc qua nội soi, phẫu thuật viên sẽ khó nhận biết được động mạch tinh do kích thước quá nhỏ và nhịp đập rất nhẹ.

Hiện nay, với nhiều ưu điểm, phương pháp dùng kính phóng đại để thực hiện vi phẫu thuật được coi là tiêu chuẩn vàng trong điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh.

– Chỉ định phẫu thuật khi GTMT lớn gây khó chịu hoặc đau tức bìu kéo dài, GTMT ảnh hướng đến tinh hoàn (giảm thể tích tinh hoàn) và tinh dịch đồ (ở nam giới trên 17 tuổi và các trường hợp vô sinh nam).

– Theo nhiều nghiên cứu cho thấy: sau phẫu thuật, khoảng 80% bệnh nhân có tinh dịch đồ cải thiện đáng kể, 45% bệnh nhân có vợ thụ thai.

Tai biến sau mổ

– Cháy máu: do mạng lưới mạch máu nhiều, dễ gây sang chấn, đụng dập. Trân lâm sàng thấy bìu sưng tím, đau khó chịu. Xử trí: để bệnh nhân nằm nghỉ cho thuốc cầm máu. Nếu khối máu tụ ngày càng to lên thì phải mổ lại để cầm máu. Tuy nhiên, do sưng tấy, đụng dập cho nên cầm máu cũng khó khăn, có thể khâu hoặc buộc vào các thành phần khác trong ống bẹn hoặc trong áo thừng tinh. Cho bệnh nhân dùng kháng sinh liều cao và phối hợp. Sau khoảng 7 ngày, khối máu tụ đã khu trú, có thế cắt chỉ hoặc mở lỗ nhỏ, lấy hết máu tụ.
Nhiễm trùng: biểu hiện sưng nóng, đỏ đau, bệnh nhân có thể bị sốt. Điều trị giảm đau, chống viêm và tăng liêu kháng sinh.
– Sưng bìu do tụ dịch (tràn dịch khoang màng tinh).
– Dãn tĩnh mạch thừng tinh tái phát do điều trị không triệt để hoặc thông nối các TM khác hoặc phát triển những mạng lưới mạch máu mới.
– Teo tinh hoàn: do buộc hoặc khâu vào động mạch gây thiểu dưỡng máu không đủ cung cấp nuôi dưỡng tinh hoàn.

Chăm sóc sau mổ

– Tùy theo phương pháp mổ mở hay nội soi, bệnh nhân có thể tắm 24 giờ sau mổ, tuy nhiên không ngâm trong bồn tắm trong vòng 5 ngày sau mổ, có thể làm việc lại sau 48 giờ.
– Có thể trở lại những hoạt động bình thường (kể cả chơi thể thao) từ 5 đến 7 ngày sau mổ.
– Đôi khi có đau nhẹ vết mổ’, sưng bìu ít và có thể có ít dịch rỉ ra từ vết mổ. Có thể dùng bông băng hoặc gạc đắp lên vết mổ.
– Tránh những hoạt động gắng sức trong 48 giờ đầu sau phẫu thuật như: khiêng vác nặng hoặc quan hệ tình dục.
– Có thể ăn uống bình thường sau mổ.
– Khám lại sau mổ 2 tuần để kiểm tra tình trạng vết mổ.
– Thử tinh dịch đồ, đếm số lượng tinh trùng sau mổ. Lần đầu tiên. thường có thể số lượng tinh trùng chưa cải thiện nhiều nhưng những lần sau số lượng tinh trùng sẽ gia tăng.
Khám lại: Khám lại ngay khi có các triệu chứng sau: đau kéo dài, không giảm khi dùng thuốc giảm đau. vết mổ bị bầm xanh hoặc thâm đen, chảy máu từ vết mổ, vết mổ có mùi hôi, bìu sưng to, sốt cao hoặc kèm rét run.

Trên đây là kiến thức về bệnh giãn tĩnh mạch thừng tinh, quý vị có câu hỏi liên quan vui lòng xem trên website hoặc liên hệ bác sĩ để được tư vấn trợ giúp.

Giãn tĩnh mạch thừng tinh: cơ chế bệnh, triệu chứng & điều trị
5 (100%) 21 votes